PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU “ĐA ĐẢNG MỚI DÂN CHỦ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH GÓP PHẦN BẢO VỆ, KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Trải qua 96 năm thực hiện vai trò lãnh đạo dân tộc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn làm tròn sứ mệnh củadân tộc giáo phó là lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu của từng thời kỳ cách mạng. Hiện nay, trong quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội cả tích cực và tiêu cực. Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách để phủ nhận vai trò lãnh đạo và làm suy giảm uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt diễn ra trên không gian mạng hiện nay. Bài viết nhận diện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng bôi nhọ Đảng, từ đó đưa ra giải pháp để ngăn chặn sự xuyên tạc chống phá của các thế lực đó.

Đặt vấn đề:Thời gian qua, trong những thời khắc nhạy cảm về chính trị như: sửa đổi Hiến Pháp 2013, Đại hội Đảng khóa XIV năm 2026 các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với luận điệu “Ở Việt Nam đa đảng mới làm nên dân chủ”. Từ luận điệu này, các thế lực thù địch, phản động đã và đang kêu gọi Việt Nam cần phải “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Rõ ràng, đây là một luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhằm chống phá Đảng Cộng sản Việt Việt Nam. Thực tế hiện nay, mỗi người dân yêu nước chân chính cần làm gì để chống lại những luận điệu xuyên tác của các thế lực thù địch là yêu cầu cấp bách của Đảng và nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1. Nhận diện và đấu tranh với luận điệu xuyên tạc “đa Đảng mới dân chủ” của các thế lực thù địch

Suốt hàng trăm năm nay, một trong những luận điệu của các thế lực thù địch tấn công vào hệ thống xã hội chủ nghĩa là vấn đề đa đảng. Họ cho rằng phải “đa đảng mới dân chủ”, một đảng là phi dân chủ. Đây thực chất là luận điệu xuyên tạc thâm độc của kẻ thù nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhan dân cần giữ vững lập trường quan điểm để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân và công cuộc đổi mới đất nước. Đồng thời, cần có lập luận sắc bén để vạch rõ âm mưu và thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch muốn đa nguyên, đa đảng hòng trục lợi cá nhân, hoặc lợi ích nhóm gây phương hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Hiện thực thế giới đã chứng minh rằng không phải cứ đa đảng là dân chủ cao và một đảng lãnh đạo là dân chủ thấp. Đa đảng hay một đảng chưa bao giờ là thước đo dân chủ. Nhìn vào thực tế một số nước trên thế giới đang thực hiện chế độ đa đảng hiện nay ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng các nước đang thực hiện đa đảng đang ngày càng bộc lộ những khuyết điểm về dân chủ như: tình hình an ninh, xã hội tồn tại những bất ổn do xung đột lợi ích khó dung hòa, kể cả những nơi đã có một số tiến bộ về dân chủ thì đó cũng không phải là nền dân chủ lâu bền hay duy nhất.

Dân chủ tư bản chủ nghĩa với bản chất là nền dân chủ của những nhà tư bản, của những người giàu, người có tài sản và có thế lực thường chỉ chỉ chiếm số ít trong xã hội.Vì vậy, cho dù các nước tư bản có đặt ra nguyên tắc đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm hướng đến dân chủ thì nền dân chủ ấy cũng không thể là nền dân chủ cao nhất, nền dân chủ của đại bộ phận dân cư, cho tất cả mọi tầng lớp. Đặc biệt là những người nghèo khó khi những người giàu là người chi trả cho những cuộc tranh cử tốn kém và chính họ sẽ chi phối cho những đạo luật có lợi cho giai cấp giàu có. Ở một số nước phương Tây đang thực hiện đa đảng, đa đang có vẻ là là tự do tranh luận, tự do ứng cử và bầu cử. Nhưng thực tế hàng trăm năm qua cho thấy rõ: chỉ có các đảng có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn có thế lực mới có khả năng chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Vì mục tiêu dành chính quyền, để bảo vệ lợi ích cho một nhóm các nhà tư sản, nên các đảng chính trị tư sản luôn tập trung một cách mạnh mẽ cho vận động tranh cử để tồn tại cho dù pháp luật về bầu cử ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ. Nhưng trong thực tế, vẫn luôn diễn ra những cuộc vận động thái quá lợi dụng các phương tiện truyền thông, thậm chí là có cả gian lận, mua bán trong bầu cử.

Thực tế cho thấy, chế độ đa đảng ở phương Tây suy cho cùng cũng chỉ dựa trên cơ sở là chế độ nhất nguyên chính trị, vì cuối cùng nó vẫn chỉ phục vụ cho thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (tức giai cấp tư sản) trong xã hội mà thôi. Sau các cuộc chạy đua bầu cử, đảng chiến thắng có đa số phiếu có quyền thành lập chính phủ, các đảng khác dù là đối lập thì cũng chỉ có tính chất phê phán, góp ý hay phản biện một số chính sách cụ thể của Chính phủ mà không thể can thiệp và làm thay đổi chính sách mà đảng nắm quyền đưa ra. Xét đến cùng, tất cả nhà nước và xã hội suy cho cùng đều là do một đảng lãnh đạo. Như vậy, dân chủ hay không, dân chủ nhiều hay ít là phụ thuộc vào bản chất và chất lượng của Đảng cầm quyền chứ không phụ thuộc vào số lượng các Đảng đối lập cùng tồn tại trên danh nghĩa.

Xã hội đương đại ngày càng tỏ rõ ở nhiều nơi, dân chủ chỉ là cái cớ cho sự tranh dành quyền lực giữa các phe phái. Ở một số nước, các đảng tranh phiếu cử tri, đấu đá nhau làm cho xã hội rối loạn, rơi vào tình trạng vô chính phủ mất ổn định. Một số nước thực hiện đa đảng nhưng thực chất là một đảng cầm quyền, hoặc hai đảng thay nhau cầm quyền, những đảng khác chỉ là hình thức. Nền dân chủ như vậy chắc chắn không phải là nền dân chủ toàn diện cho tất cả xã hội.

2. Thực tiễn quá trình đấu tranh cho nền độc lập, tự do, dân chủ của dân tộc Việt Nam

Lịch sử Việt Nam cho thấy, 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, trước sức mạnh của thực dân Pháp xâm lược đến năm 1884 triều đình nhà Nguyễn đã bạc nhược đầu hàng và đã ký hiệp ước Patơnốt mở đường cho Pháp chính thức xâm lược Việt Nam.

 Quốc gia dân tộc Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập, chính thức trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự kiểm soát của thực dân Pháp. Mặc dù triều đình nhà Nguyễn vẫn còn tồn tại, nhưng thực tế nó chỉ là một chính quyền bù nhìn, tay sai cho Pháp và không còn quyền tự quyết trong các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Mọi quyền lực và quyết định quan trọng đều do Pháp nắm giữ, khiến Việt Nam mất đi độc lập và chủ quyền, dân tộc Việt Nam phải sống dưới ách nô lệ, áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp cùng triều đình nhà Nguyễn và tay sai, tức “một cổ, hai tròng”, chịu sưu cao, thuế nặng với hàng trăm thứ thuê vô lý đưa ra mà người dân Việt Nam phải cõng trên đầu, trên vai, phải cống nạp và nuôi bọn thực dân Pháp và đội ngũ quan lại để bọn chúng ăn chơi phè phỡn, xa xỉ... Trước hoàn cảnh lịch sử “nước mất, nhà tan”, đời sống nhân dân lao động Việt Nam bị lầm than, khổ cực đã xuất hiện nhiều phong trào của các bậc sĩ phu yêu nước nổ ra để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi bị gông cùm nôlệ đã đi theo các khuynh khác nhau diễn ra sôi sụctừ Bắc đến Nam như: Hệ tư tưởng phong, hệ tư tưởng tư sản dân tộc, hệ tư tưởng trí thức tiểu tư sản.., nhưng tất cả các phong trào yêu nước trên đều bị thất bại và bị dìm trong bể máu. Chính trong hoàn cảnh lịch sử bế tắc, đã xuất hiện người con ưu tú đất Việt - Nguyễn Ái Quốc tức (Hồ Chí Minh), Người đã quyết tâm đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã khảo sát các mô hình cách mạng trên thế giới và chỉ ra cách mạng Mỹ, cũng như cách mạng Pháp dạy cho chúng ta bài học: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [5]. Như vậy, theo Người khi chúng ta làm cách mạng rồi thì không để chính quyền thuộc về số ít, mà chính quyền đó phải thuộc về số đông. Mô hình dân chủ mà Hồ Chí Minh mong muốn là mô hình dân chủ mà làm sao quyền làm chủ đến tận tay những người nghèo nhất, những người yếu nhất và họ phải thật sự là người làm chủ nước nhà.

Thấm nhuần quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện cũng kiên quyết lấy dân chủ xã hội chủ nghĩa làm bản chất của chế độ, để thực hiện mục tiêu cao nhất của nền dân chủ đó là “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện của sự phát triển tự do cho tất cả mọi người” [1] theo tư tưởng của C. Mác.

Xét về mặt lịch sử Việt Nam,những năm đầu thế kỷ XX các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp từng lần lượt ra đời như: Đảng của giai cấp nông dân (Đảng Nghĩa Hưng -1907); Đảng của gia cấp tư sản, địa chủ (Đảng Lập hiến Đông Dương – 1923); Đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, tiểu tư sản như: Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập – 1927; Hay Việt Nam quốc dân Đảng - 1927…. Thậm chí có cả những đảng tay sai như: Đại Việt Quốc gia xã hội Đảng, Đại Việt quốc dân Đảng và các đảng phản động như: Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách).., Tuy nhiên, chỉ từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930, Đảng mới nhận được sự tin tưởng, yêu mến của nhân dân, quy tụ được niền tin, sức mạnh trong toàn dân, đủ sức tiếp nhận sứ mệnh dân tộc giao phó để lãnh đạo dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn gian khó để lập nên một nhà nước của người Việt Nam thoát khỏi sự kìm kẹp đô hộ và thân phận nô lệ trâu ngựa từ những kẻ ngoại bang trà đạp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta trở thành nước độc lập. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền. Từ đó đến nay, Đảng đã lãnh đạo đất nước, dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: đánh bại cuộc xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước cuộc xâm lược ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [4]. Kết quả này là minh chứng, khẳng định đanh thép Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng Cộng sản duy nhất, đủ sức, đủ tài lãnh đạo dân tộc dành độc lập dân tộc và đưa đất nước phát triển.

Sau năm 1945, với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam vẫn có ba đảng cùng tồn tại đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Hai đảng này đã cùng đồng hành với Đảng Cộng sản Việt Nam và có những đóng góp nhất định trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ. Tuy nhiên, sau đó hai đảng này đã không thể tiếp tục đồng hành cùng dân tộc vì vậy đã tự tuyên bố giải tán. Như vậy, khác với nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản đã là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng. Đảng đã vượt qua những thử thách của lịch sử, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn.Ngay cả những thời khắc cam go nhất của lịch sử dân tộc không có một lực lượng chính trị nào khác có thể đề ra được đường lối đáp ứng yêu cầu lịch sử, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển. Đảng đã, đang và tiếp tục thực hiện sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà không có một lực lượng nào có thể xứng tầm thay thế.

Từ thực tiễn trên cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.Chính thực tiễn này đã khẳng định, ở Việt Nam hiện nay không cần đa đảng và cũng đúng với nhận định của đồng chí Nguyễn Phú Trọng: “Ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ” [7]. Thực tế, năm 2010, khi trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng hay chưa, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng”[8].

Trải qua40 năm của quá trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng khẳng định được vai trò là một Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền lãnh đạo dân tộc, nhận được sự tin tưởng, đồng thuận trong nhân dân. Đường lối của Đảng cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Cương lĩnh Đảng nêu rõ: “Dân chủ xa hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” [2]. Đảng xác định rõ có dân chủ thì cán bộ và quần chúng có sáng kiến. Có dân chủ thì nhân dân mới dám nói, mới phát huy được mọi sáng tạo và dám làm. Với đường lối này, Đảng đã và đang lãnh đạo trong việc xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp và trên tất cả mọi lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Mọi hành vi của cá nhân hay tổ chức vi phạm dân chủ đều là phạm pháp, phạm luật và đều bi xử lý.

Trong lãnh đạo không thể phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm do chủ quan, nóng vội, duy ý chí do chưa bám sát đặc điểm, tình hình cụ thể của đất nước. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm nhận thức ra những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, điển hình như trong thời kỳ cải cách ruộng đất giai đoạn 1953 - 1954 và đã nghiêm túc phê bình, tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm trên tinh thần “tự soi, tự sửa”, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Trong quá trình phát triển, cũng như ở các quốc gia đa đảng, không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế, nhất là vấn đề tham nhũng, tiêu cực, suy thoái nhưng vấn đề quan trọng là Đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật để chỉnh đốn, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.Hiện thực xã hội phát triển càng nhanh, càng núp ẩn những sai hỏng về tư tưởng đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên. Những suy thoái được ngụy trang tinh vi, khiến quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi bị xâm phạm. Thực hành dân chủ chỗ này hình thức, hay chỗ kia dân chủ bị lợi dụng để chia rẽ gây rối, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Đâu đó còn có những sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí mà thiếu dân chủ.  Đó là thực tế, là tồn tại cần Đảng chấn chỉnh quyết liệt. Nhưng đó không phải là bản chất của chế độ ta, không phải là do một đảng lãnh đạo tạo ra. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta kiên quyết không bao che cho những hư hỏng như vậy. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận, những sai lầm đó đã làm suy giảm những giá trị tốt đẹp của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; suy giảm vai trò vị thế lãnh đạo của đảng và đó là một trong những nguy cơ đối với Đảng cầm quyền. Những khuyết điểm đó đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc. công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cho rằng đó là những khuyết tật của chế độ một Đảng, dẫn đến mấy dân chủ.Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”.

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu diễn biến hòa bình với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”[3]. Những thành tựu này tiếp tục chứng minh chặng đường từ khi có Đảng lãnh đạo là chặng đường vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng cơ đồ đất nước. Đảng đã khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, mang lại cho nhân dân cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng và văn minh. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nghiêm khắc và có trách nhiệm cao với sứ mệnh lãnh đạo của mình, gắn vận mệnh của mình với vận mệnh của dân tộc. Đảng không độc đoán, bảo thủ, chuyên quyền, không xa rời những nguyên lý và nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, quan hệ gắn bó máu thịt với nhândân.

3. Một số biện pháp góp phần tăng cường công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch

Ở Việt Nam hiện nay, khác hẳn với nhiềunước tư bản trên thế giới đặt tương lai của một nền dân chủ phụ thuộc vào chế độ đa nguyên, đa đảng, hay vào sự thắng lợi của các phe nhóm chính trị, của những người giàu có nào đó. Nền dân chủ XHCN củaViệt Nam đặt tương lai dân chủ của mình vào quá trình nâng cao quyền làm chủ toàn diện và trực tiếp của nhân dân dựa trên cơ chế dân chủ: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân đánh giá,  dân thụ hưởng”.Việc đưa ra những luận cứ để phản bác là quan trọng, song kiên định chế độ chính trị nhất nguyên XHCN và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cần phải thực hiện nhiều biện pháp tổng thể và cụ thể. Trong đó, có thể kể đến một số biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam. Cho đến nay, chế độ XHCN vẫn là sự lựa chọn đúng đắn, duy nhất của nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, bởi Đảng không bao giờ có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Vai trò, vị thế của Đảngđã được nhân dân thừa nhận, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao. Vì vậy phải nhận thức đúng và tiếp tục kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phải xây dựng Đảng, Nhà nước thật trong sạch, vững mạnh. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ, đảng viên trong các cơ quan nhà nước phải nâng cao trách nhiệm “nêu gương”, thực hiện cam kết chính trị trong xây dựng Đảng, Nhà nước, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Bởi sức mạnh của Đảng, của Nhà nước, của cán bộ, đảng viên và nhân dân là lá chắn bảo vệ vững chắc chế độ nhất nguyên và vai trò lãnh đạo của Đảng mà không thế lực thù địch nào có thể xóa bỏ được. Để xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh, phải giữ vững nguyên tắc trong xã hội Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định đường lối đổi mới.

Ba là, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, kịp thời nghiên cứu, xây dựng, ban hành và thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng dân” nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và địa phương.

Bốn là, phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách phân hóa giàu-nghèo trong nhân dân.

Năm là, quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, cả người Việt Nam ở trong nước và những người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được thụ hưởng mọi thành quả lao động mà chính mình đã sáng tạo ra.

Sáu là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, nhất là trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm trong sạch bộ máy, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm khắc, dứt điểm các vụ việc tham nhũng nghiêm trọng gây hậu quả lớn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ 4.0 vào QLNN nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Kết luận:Trải qua 96 năm lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm cách mạng, với tất cả những gì Đảng đã làm cho dân tộc Việt Nam, với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội là cơ sở thực tiễn thuyết phục nhất, là minh chứng hùng hồn nhất để khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xứng đáng là Đảng duy nhất có đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và không một lực lượng nào, đảng phái nào có thể thay thế được vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết khẳng định “Việt Nam không chấp nhận đa đảng”, quán triệt thực hiện nhất nguyên về chính trị trên nền tảng thế giới quan chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ cho số đông quần chúng nhân dân lao động. Đồng thời, quán triệt nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ trên các mặt của đời sống xã hội.  Điều này được khẳng định trong Điều 4 của Hiến pháp 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn thể dân tộc và đất nước Việt Nam hiện nay, Cụ thể: Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ghi như sau:

“1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.

3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.[6]

Việc các thế thực thù địch, chống đối thường xuyên lợi dụng âm mưu “diễn biến hòa bình” đòi hạ thấp uy tín và danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn thể dân tộc Việt Nam hiện nay là đi ngượi lại với lợi ích của Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa và nhân dân Việt Nam, phủ nhận công lao, thành tích đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam. Qua thực tiễn làm cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân, quyết tâm đưa đất nước và dân tộc Việt Nam vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội cho con người, vì con người, từng bước hiện thực hóa mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Vũ Văn Thiện
Ban Xây dựng Đảng Đảng ủy xã Đoàn Đào

Sáng ngày 03/9/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp từ điểm cầu chính tại Phòng họp Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội, kết nối trực tuyến tới điểm cầu các ban, bộ, ngành, địa phương, các cơ quan.
Bản đồ hành chính Xã Đoàn Đào
Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

315lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng50%
159 lượt đánh giá
Hài lòng8%
26 lượt đánh giá
Bình thường9%
27 lượt đánh giá
Không hài lòng0%
0 lượt đánh giá
Ý kiến khác33%
103 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
1.514.637
Tổng truy cập
154
Truy cập hôm nay
10
Đang online